
Ngay bên cổng Thành Cổ, bốn câu thơ của nhà thơ, cựu chiến binh Phạm Đình Lân đã trở thành lời nhắc nhở lặng lẽ nhưng sâu sắc đối với mỗi người khi đặt chân đến nơi đây:
"Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi,
Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ,
Trời Quảng Trị trong xanh và lộng gió,
Dẫu ồn ào đừng lay động hàng cây."
Bốn câu thơ ngắn gọn nhưng chứa đựng biết bao nỗi niềm tri ân, nhắc nhở mỗi chúng ta rằng, dưới màu xanh bình yên của cỏ cây hôm nay là sự hy sinh của biết bao người con đất Việt. Và đó cũng là lời mời để chúng ta cùng bước vào thế giới của những tập thơ kháng chiến viết về Quảng Trị – nơi lịch sử được gìn giữ bằng ký ức, bằng thi ca và bằng lòng biết ơn bất tận.
Giữa lồng lộng gió trời Quảng Trị, sự im lặng của Thành Cổ không phải là sự hoang phế, mà là sự lắng đọng mang giá trị kết nối giữa quá khứ chiến tranh khốc liệt và hiện tại hòa bình. Khi bước chân chậm lại, ta sẽ nghe thấy tiếng vọng của những câu thơ bất tử gieo vào lòng người qua nhiều thế hệ:
Hay Nhắc đến cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ, không ai có thể quên 4 câu thơ nghẹn ngào của cựu chiến binh Lê Bá Dương. Con sông Thạch Hãn ngoài kia nay êm đềm trôi, nhưng dưới đáy sông là xương máu của biết bao người lính tuổi đôi mươi đã nằm lại để đổi lấy hòa bình:
"Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi nghìn năm."
Sự hy sinh tại Thành Cổ lớn đến mức mỗi một thớ đất, một nhành cây ngày nay đều mang bóng hình của những người lính trẻ. Trong bài thơ "Thắp cho Thành Cổ", nhà thơ Nguyễn Hữu Quý đã viết những câu thơ lay động về cái giá của cuộc sống thanh bình ngày hôm nay:
"Rêu cũng đỏ như đã từng là máu
Cỏ xanh hơn nơi vạn chiến binh nằm
Ù… ù… gió hay hồn lính trận
thổi trăm năm không qua được mùa hè."
Sự đối lập giữa màu rêu đỏ (quá khứ bom đạn) và màu cỏ xanh (hiện tại hòa bình) chính là minh chứng rõ ràng nhất cho sự tái sinh mạnh mẽ từ mảnh đất đau thương.
Chiến tranh khép lại, người lính ngã xuống hóa thân vào đất đá để người ở lại được sống trong tự do. Bản chất của hòa bình trên mảnh đất này rất giản dị, nó được đổi bằng tuổi trẻ của vạn người con, như nhà thơ Lâu Văn Mua từng viết trong bài "Thành cổ Quảng Trị":
"Trong mỗi hạt bụi
Trên từng nhành cây
Tôi viết tên anh
Người chiến sĩ vô danh
Tên anh khắc trong từng thớ đất..."
Và như phần tiếp theo trong bài thơ "Tấc đất Thành Cổ" của tác giả Phạm Đình Lân đã nhắc nhở chúng ta:
"Thành cổ rộng sao đồng đội tôi nằm chật
Mỗi tấc đất là một cuộc đời có thật
Cho hôm nay tôi đến nghẹn ngào."
Ngoài những câu thơ, bài thơ bất hủ tới mảnh đất Quảng Trị còn có những kỷ vật tại vùng đất này là một nốt nhạc trầm hùng viết nên khúc tráng ca bất tử của thế hệ thanh xuân thời hoa lửa. Bức thư mười trang của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, người lính sinh viên gửi gắm dự cảm thiêng liêng và tình yêu son sắt vượt qua lằn ranh sinh tử. Chiếc bi đông nước bị lưỡi lê đâm xuyên qua lại ngời sáng tình đồng chí keo sơn, nhường nhau từng giọt nước giữa mưa bom bão đạn. Và những chiếc mũ cối sờn cũ khắc tên trường, tên lớp là chứng tích kiêu hãnh của một thế hệ trí thức xếp bút nghiên lên đường chiến đấu. Tất cả những hiện vật nhuốm màu thời gian ấy không hề vô tri, mà đang âm thầm kể câu chuyện về lòng yêu nước kiên trung và sự hy sinh cao cả. Chúng nối liền quá khứ đau thương với hiện tại thanh bình, nhắc nhở chúng ta về cái giá vô cùng của độc lập, tự do. Để rồi mỗi khi nghiêng mình trước những kỷ vật ấy, lòng ta lại tự răn mình phải sống xứng đáng với máu xương của những người đi trước.
Ngoài ra Thư viện có những trang sách "Mỗi trang sách là một mảnh ghép ký ức, và những câu chuyện của các bác cựu chiến binh chính là nhịp cầu đưa chúng ta về với quá khứ. Tôi có thể giới thiệu Ba tác phẩm, ba góc nhìn khác nhau, nhưng cùng gặp nhau ở một điểm: khẳng định sức mạnh của lòng yêu nước, của niềm tin và khát vọng sống mãi trong trái tim người Việt Nam.
Đó là "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" – nơi một nữ bác sĩ trẻ gửi gắm lý tưởng, tình yêu và khát vọng sống. Đó là "Mãi mãi tuổi hai mươi" của Nguyễn Văn Thạc – cuốn nhật ký lưu giữ những ước mơ còn dang dở của một chàng sinh viên khoác áo lính. Và tiếp nối mạch nguồn ấy là "Mưa Đỏ", tái hiện 81 ngày đêm bi tráng bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị, giúp thế hệ hôm nay hình dung rõ hơn về sự khốc liệt của chiến tranh và giá trị vô giá của hòa bình.
Nếu thơ là tiếng lòng của ký ức, thì nhật ký lại là tiếng nói chân thực nhất của một thế hệ đã sống, đã yêu và đã đi qua chiến tranh. Không phải những trang viết dành cho công chúng, mà là những dòng tâm sự được viết trong những giờ phút đối diện với bom đạn, giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết.
Có những địa danh chỉ cần nhắc tên cũng đủ khiến lòng người lặng đi: Bến phà Gianh, Phà Long Đại, Hang Tám Cô… Mỗi tấc đất nơi đây đều thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và máu của những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Hàng trăm di tích lịch sử, nghĩa trang liệt sĩ, những ngôi mộ không tên, những cung đường Trường Sơn trên khắp mọi miền đất nước vẫn lặng lẽ lưu giữ ký ức về một thời mưa bom bão đạn. Đó không chỉ là những chứng tích của chiến tranh, mà còn là những biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước và sự hy sinh. Mỗi lần trở về những “tọa độ lửa” ấy, chúng ta càng thấu hiểu rằng hòa bình không phải là điều tự nhiên có được. Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng tuổi hai mươi còn dang dở, bằng những giấc mơ chưa kịp thành hình và bằng cả những cuộc đời đã hóa thành bất tử. Bởi vậy, tri ân quá khứ không chỉ là thắp một nén hương, mà còn là gìn giữ hòa bình, sống tử tế, sống trách nhiệm để xứng đáng với sự hy sinh vô giá của các thế hệ cha anh.
Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Nguyệt - Phòng CTBĐ
Nguồn tin: Thư viện tỉnh